Phân tích ba khổ cuối bài thơ Ánh trăng để thấy được đó là cuộc gặp gỡ có ý nghĩa gợi nhắc cho người đọc một thái độ sống một đạo lý cao đẹp của dân t

Question

Phân tích ba khổ cuối bài thơ Ánh trăng để thấy được đó là cuộc gặp gỡ có ý nghĩa gợi nhắc cho người đọc một thái độ sống một đạo lý cao đẹp của dân tộc Việt Nam mà không ai được lãng quên

in progress 0
Ladonna 3 years 2021-02-05T08:37:39+00:00 3 Answers 1 views 0

Answers ( )

    0
    2021-02-05T08:39:35+00:00

    I, Dàn ý tham khảo

    A. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả: Nguyễn Duy 

    + Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
    + Phong cách sáng tác

    + Tác phẩm tiêu biểu

    – Giới thiệu tác phẩm: Ánh trăng

    + Xuất xứ

    + Nội dung, nghệ thuật

    – Giới thiệu khái quát về ba khổ thơ cuối

    B. Thân bài

    1. Khổ thơ

    “Từ hồi về thành phố

    Quen ánh điện cửa gương

    Vầng trăng đi qua ngõ

    Như người dưng qua dường”

    – Chiến tranh kết thúc, những người lính rời khỏi chiến trường khốc liệt để trở về quê hương xứ sở. Họ tận hưởng một cuộc sống ngày càng trở nên hiện đại, văn minh hơn.

    – Chính điều đó đã khiến người lính vô tình quên đi người bạn tri âm, tri kỉ.

    2. Khổ thơ “Thình lình đèn điện tắt … đột ngột vầng trăng tròn”

    – Trước mặt người lính bây giờ là “vầng trăng tròn”, người bạn tri âm tri kỉ đã bị lãng quên bấy lâu nay.

    – Trăng không bỏ đi dù người lính có lãng quên trăng. Trăng không trách cứ hờn dỗi dù có bị xem là “người dưng”.

    3. Khổ thơ cuối 

    – Hình ảnh vầng trăng đã mang một ý nghĩa biểu tượng: trăng là quá khứ nghĩa tình, là vẻ đẹp bình dị vĩnh hằng trong đời sống.

    + Vầng trăng “tròn vành vạnh” thể hiện một vẻ đẹp viên mãn trọn vẹn, bất chấp sự vô tình của con người.

    + Trăng “im phăng phắc”, không nói gì mà chỉ nhìn.

    => Trăng đã trở thành hiện thân của quá khứ chân tình, chung thủy và nghiêm khắc nhắc nhở con người tự soi rọi lại chính mình.
    => Bài thơ chính là cuộc gặp gỡ có ý nghĩa gợi nhắc cho người đọc một thái độ sống một đạo lý cao đẹp của dân tộc Việt Nam mà không ai được lãng quên – Uống nước nhớ nguồn
    C. Kết bài

    – Khẳng định giá trị của ba khổ thơ cuối nói riêng và bài thơ nói chung

    – Tình cảm của em dành cho tác phẩm

    II, Bài văn tham khảo

    Không biết tự bao giờ, trăng đã trở thành niềm cảm hứng sáng tác của các nhà văn, nhà thơ. Ta có thể bắt gặp một ánh trăng lãng mạn và chất chứa nhiều cảm xúc trong “Nguyên tiêu” của Hồ Chí Minh hay là một ánh trăng gợi lên nỗi nhớ da diết trong “Tình dạ tứ” của Lý Bạch. Đến với trăng của Nguyễn Duy, ta như thấy được một sự nhắc nhớ về truyền thống, đạo lí cao đẹp của dân tộc – Uống nước nhớ nguồn. 

    Bài thơ “Ánh trăng” là lời tự nhắc nhở bản thân của nhà thơ về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính. Vầng trăng gắn bó với tác giả suốt cả một quãng đời tuổi thơ. Trăng lại tiếp tục dõi theo từng bước chân hành quân trong suốt cuộc chiến, cùng chia sẻ những khó khăn gian khổ và cùng tận hưởng chiến thắng. Người và trăng lúc ấy gắn bó với nhau như những người bạn tri âm tri kỉ.

          Ngỡ như không bao giờ quên được “vầng trăng tình nghĩa” nhưng sự thay đổi của lòng người như một nhát chổi cuốn phăng đi tất cả những kỉ niệm, hình ảnh về vầng trăng:

    “Từ hồi về thành phố

    quen ánh điện cửa gương

    vầng trăng đi qua ngõ

    như người dưng qua dường”

         Chiến tranh kết thúc, những người lính rời khỏi chiến trường khốc liệt để trở về quê hương xứ sở. Họ tận hưởng một cuộc sống ngày càng trở nên hiện đại, văn minh hơn. Người lính ngày xưa bây giờ được sống trong “ánh điện, cửa gương” và vầng trăng dần dần bị phai nhạt trong kí ức của họ. Vầng trăng giờ đây không còn là “vầng trăng tri kỉ” hay “vầng trăng tình nghĩa” nữa mà đã trở thành một “người dưng”, một người không có bất kì mối quan hệ nào với người lính. Phép nhân hóa “người dưng qua đường” đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc. Nó đã làm nổi bật lên sự thay đổi của lòng người. Sự ồn ã của phố phường, sự bận bịu mưu sinh bươn chải kiếm sống cùng với sự vô tâm của người lính đã lấn át đi lí trí của họ mà xóa bỏ vầng trăng ra khỏi trí nhớ. Điều này cũng nói lên một thực tế: khi con người được tận hưởng sự sung sướng đến từ vật chất thì họ bắt đầu lãng quên những kí ức gắn bó với mình lúc khó khăn.

         Cuộc đời cũng như dòng sông có lắm thác nghềnh quanh co uốn khúc, đôi khi xảy ra những chuyện không bao giờ lường trước được:

    “Thình lình đèn điện tắt

    phòng buyn-đinh tối om

    vội bật tung cửa sổ

    đột ngột vầng trăng tròn”

         Đèn điện tắt, cuộc sống hiện đại xa hoa của chốn thị thành bất chợt dừng lại và bao quanh con người giờ đây chỉ là một màn đêm. Như là một bản năng, con người không bao giờ muốn ở trong bóng đêm, họ tìm mọi cách để có được ánh sáng thế là “vội bật tung cửa sổ”. Trước mặt người lính bây giờ là “vầng trăng tròn”, người bạn tri âm tri kỉ đã bị lãng quên bấy lâu nay. Vầng trăng ấy vẫn cứ “tròn”, vẫn lành lặn vẹn nguyên như hồi nào. Trăng không bỏ đi dù người lính có lãng quên trăng. Trăng không trách cứ hờn dỗi dù có bị xem là “người dưng”. Cái lòng vị tha, bao dung của ánh trăng đã làm thức dậy trong nhà thơ những suy nghĩ bâng khuâng:

    “Ngửa mặt lên nhìn mặt

    có cái gì rưng rưng

    như là đồng, là bể

    như là sông, là rừng”

        Mặt người phải đối diện với mặt trăng hay chính tác giả đang phải đối diện với người bạn tri kỉ của mình ? Vầng trăng im lặng, chẳng nói, chẳng trách móc mà nhà thơ vẫn cứ cảm thấy “có cái gì rưng rưng”. Cảm xúc giờ đây như muốn trào ra thành từng giọt nước mắt. Điệp từ “như là” cùng với cấu trúc song hành và nghệ thuật liệt kê đã làm nổi bật lên dòng kí ức tuôn trào, vỡ òa trong thâm tâm của nhà thơ. “Đồng, bể, sông, rừng”, những cảnh vật đã gắn bó với người lính ngày xưa ùa về. Nó như là một thước phim chiếu lại những kỉ niệm thân thương mà bị lãng quên. Giọt nước mắt bây giờ khiến cho tâm hồn nhà thơ trở nên thanh thản, trong sáng lại, giúp ông nhận ra lỗi lầm của mình.

        Ở khổ cuối, vầng trăng đã thực sự thức tỉnh con người:

    “Trăng cứ tròn vành vạnh

    kể chi người vô tình

    ánh trăng im phăng phắc

    đủ cho ta giật mình”

         Đến đây, hình ảnh vầng trăng đã mang một ý nghĩa biểu tượng: trăng là quá khứ nghĩa tình, là vẻ đẹp bình dị vĩnh hằng trong đời sống. Vầng trăng “tròn vành vạnh” thể hiện một vẻ đẹp viên mãn trọn vẹn, bất chấp sự vô tình của con người. Trăng “im phăng phắc”, không nói gì mà chỉ nhìn. Trăng đã trở thành hiện thân của quá khứ chân tình, chung thủy và nghiêm khắc nhắc nhở con người tự soi rọi lại chính mình. Con người có thể lãng quên, chối bỏ quá khứ nhưng quá khứ vẫn cứ mãi bất diệt, vẹn nguyên.

         Thể thơ năm chữ cùng với nhịp thơ trôi chảy, tự nhiên và nhịp nhàng theo lời kể đã thể hiện được tâm trạng suy tư của tác giả. Giọng điệu tâm tình tự nhiên của nhà thơ cùng kết cấu độc đáo của đoạn thơ tạo nên tính chân thực, có sức truyền cảm sâu sắc cho người đọc. Cùng với phép nhân hóa và so sánh, vầng trăng hiện lên như một con người có tri giác, một người bạn tri âm tri kỉ không bao giờ bỏ rơi người lính.

         Bài thơ “Ánh trăng” không chỉ là lời tự nhắc nhở bản thân của tác giả mà đó còn là thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm đến mọi người. Bài thơ đồng thời củng cố ở người đọc về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

    0
    2021-02-05T08:39:37+00:00

    ” Thình lình đèn điện tắt 

    phòng buyn-đinh tối om 

    vội bật tung cửa sổ 

    đột ngột vầng trăng tròn “

    Một tình huống đèn điện tắt, phòng tối om, con người gặp lại vầng trăng tròn tỏa sáng tình nghĩa xưa. Đảo ngữ từ láy ” thình lình ” đưa lên trước để nhấn mạnh một tình huống bất ngờ xảy ra. Nhịp thơ nhanh hối hả với từ ngữ diễn tả sự đột ngột, nhanh chóng, sự thay đổi bất thường. Tình huống mất điện, một hành động rất nhanh: ” vội bật tung cửa sổ “. Lúc này chính nhà thơ đã đối diện với vầng trăng tròn và khoảnh khắc bất ngờ đó đã tạo nên một bước ngoặt trong mạch cảm xúc. Hình ảnh vầng trăng tròn biểu tượng của sự thủy chung nguyên vẹn, tròn đầy. Vầng trăng tròn vẫn tỏa sáng và khi đèn điện tắt vầng trăng đột ngột xuất hiện. Từ ” đột ngột ” đã diễn tả cảm xúc hoảng hốt bất ngờ của nhà thơ khi nhận ra vầng trăng tình nghĩa vẫn luôn đồng hành với con người, vẫn luôn thủy chung gắn bó. Chính thứ ánh sáng đẹp, tình nghĩa của vầng trăng đã tạo bước ngoặt cảm xúc đánh thức những suy ngẫm trong lòng nhà thơ. Khi đối diện với với vầng trăng tròn tỏa sáng, cuộc gặp gỡ giữa người với trăng đã đánh thức bao cảm xúc mãnh liệt trong lòng nhà thơ, bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả rơi nước mắt. 

    ” Ngửa mặt lên nhìn mặt 

    có cái gì rưng rưng 

    như là đồng là bể 

    như là sông là rừng “

    Khi con người lặng lẽ đối diện với vầng trăng tròn có cái gì đó khiến cho nhà thơ áy náy dù không bị quở trách một lời nào cũng phải ” rưng rưng “. Từ ” mặt ” ở cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa tạo sự đa nghĩa cho ý thơ. Nhà thơ đối diện với vầng trăng tròn tỏa sáng, người bạn tri kỷ tình nghĩa năm xưa mà đã vô tình lãng quên để tự thú về sự bội bạc của chính mình. Khi nhà thơ đối diện với vầng trăng nhà thơ nhìn thấy cả mặt mình trong đó, ông tự vấn lương tâm hổ thẹn ân hận về sự thay đổi của mình. Người bạn năm xưa, vầng trăng một thời đã đồng hành trong những năm tháng gian khổ, người bạn đã từng gắn bó mà nay con người vô tình quên đi. Chính người lính đó đã thấy cái gì ” rưng rưng ” từ đáy lòng mình và cuộc đối thoại không lời trong khoảnh khắc ấy đã khiến cho nhà thơ rưng rưng xúc động. Dường như nước mắt đang muốn tuôn ra bởi vì quá khứ gian lao vất vả, những kỉ niệm bỗng ùa về trong tâm thức. Đối mặt với vầng trăng, người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào nơi tràn ngập niềm vui cùng với trăng, với thiên nhiên nơi có sông có bể bấy lâu tưởng như đã quên giờ bỗng ùa về trong nỗi nhớ, rưng rưng như nghẹn ngào muốn khóc. Bằng hình ảnh so sánh, liệt kê, điệp ngữ trong đoạn thơ, giọng thơ mộc mạc chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm đẫm hình ảnh mang cái hồn đi vào lòng người 

    ” Trăng cứ tròn vành vạnh 

    kể chi người vô tình 

    ánh trăng im phăng phắc 

    đủ cho ta giật mình “

    Khổ thơ cuối của bài thơ ” Ánh trăng ” được Nguyễn Duy thể hiện suy ngẫm sâu sắc và triết lý qua hình tượng vầng trăng. Vầng trăng đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của sự bất biến vĩnh hằng không thể thay đổi. ” Trăng cứ tròn vành vạnh ” biểu tượng cho sự tròn đầy thủy chung nguyên vẹn của thiên nhiên, của quá khứ tốt đẹp ân tình ân nghĩa cho dù con người có vô tình lãng quên. Với nghệ thuật nhân hóa đặc sắc trong câu thơ ” ánh trăng im phăng phắc ” tác giả đã gợi sự liên tưởng về cái nhìn nghiêm khắc và bao dung độ lượng của người bạn thủy chung tình nghĩa. Sự im lặng của vầng trăng không hề trách móc con người đã khiến nhà thơ ” giật mình ” thức tỉnh. Cái giật mình của lương tâm nhà thơ thật đáng trân trọng biết bao. Nó thể hiện những suy ngẫm trăn trở, tự đấu tranh với chính mình để sống tốt hơn. Chính cái giật mình đó đã khiến nhà thơ nhận thấy sự bội bạc của mình, ăn năn hối lỗi. Thế nên dòng thơ cuối đã khép lại toàn bài, dồn nén biết bao nhiêu cảm xúc, bao nhiêu tâm sự, lời sám hối ăn năn day dứt dù không cất lên lời. Qua đó nhà thơ Nguyễn Duy muốn gửi gắm đến tất cả mọi người chúng ta, nhắc nhở về một lẽ sống tốt đẹp của dân tộc: ” uống nước nhớ nguồn “, ân nghĩa thủy chung, đừng bao giờ quên đi quá khứ tốt đẹp 

    0
    2021-02-05T08:39:48+00:00

    Để tìm câu trả lời chính xác các em hãy tham khảo phan tich anh trang các nguồn hoc24.vn, lazi.vn, hoidap247.com để thầy cô và các chuyên gia hỗ trợ các em nhé!

Leave an answer

Browse

Giải phương trình 1 ẩn: x + 2 - 2(x + 1) = -x . Hỏi x = ? ( )