tìm và nêu tác dụng của các hình ảnh tự sự kết hợp miêu tả trong văn bản làng cảu Kim Lân

Question

tìm và nêu tác dụng của các hình ảnh tự sự kết hợp miêu tả trong văn bản làng cảu Kim Lân

in progress 0
Ladonna 1 year 2020-10-18T11:05:11+00:00 3 Answers 155 views 0

Answers ( )

    0
    2020-10-18T11:07:04+00:00

    Đáp án:

    Trong thực tế khi kể chuyện, nếu chỉ kể các sự việc và nhân vật thì câu chuyện sẽ không hấp dẫn. Đó chỉ là bản thống kê các sự việc và hành động của nhân vật. Muốn câu chuyện trở nên cụ thể, gợi cảm, sinh động thì trong khi kể, người kể cần miêu tả chi tiết hành động, cảnh vật, con người. Yếu tố miêu tả là không thể thiếu vắng trong những văn bản tự sự hấp dẫn. Ví dụ, khi Kim Lân kể chuyện ông Hai đi ra phòng thông tin, rồi đi ra lối huyện cũ gặp những người tản cư để thăm hổi tin tức, để cho ông lão nghe cái tin khủng khiếp cả làng ông là Việt gian theo Tây, nhà văn miêu tả : cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ổng lão lặng đi tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt cái gì vướng ở cổ, ồng cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi :

    – Liệu có thật không hở bác ? Hay là chỉ lại…

    Những chi tiết miêu tả ấy làm cho người đọc thấy rõ được sự đau đớn, xấu hổ, nghẹn ngào của ông Hai. Vì ông rất yêu làng ông, ông rất tự hào về cái làng kháng chiến của ông. Thế mà bây giờ tin dữ ấy cho thấy làng ông chẳng có gì đáng khoe, thậm chí lại còn là làng Việt gian, đang bị khinh bỉ, tẩy chay.

    Miêu tả cảnh vật thiên nhiên, miêu tả chân dung, trang phục, miêu tả hành động của nhân vật đều góp phần làm cho bài văn tự sự sinh động, hấp dẫn.

    Riêng đối với nhân vật thì miêu tả nội tâm là một điều hết sức quan trọng. Người kể chuyện thông qua miêu tả, tái hiện những suy nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Chính miêu tả tâm trạng nhân vật làm cho nhân vật không chỉ có diện mạo, mà còn có tâm hồn. Nhân vật vì thế mà sống động hơn. Và do đó văn bản tự sự cũng hấp dẫn, lôi cuốn hơn.

    Nhà văn Nguyên Hồng đã miêu tả nỗi đau đớn của mình khi người cô xúc phạm đến mẹ đồng thời miêu tả nỗi sung sướng cực điểm của mình khi được ngồi trong lòng mẹ. Đấy chính là những miêu tả nội tâm làm cho chúng ta thấy yêu mến nhân vật bé Hồng.

    Nhà văn Nam Cao miêu tả cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó, lão hu hu khóc như con nít vì ân hận đã trót lừa, nỡ tâm lừa nó. Việc dằn vặt, đau đớn của lão Hạc cho chúng ta thấy lão là người tử tế, lương thiện như thế nào.

    2. Nghị luận trong văn tự sự

    Trong văn bản tự sự, người kể chủ yếu là kể sự việc, và nhân vật, có sử dụng yếu tố miêu tả để làm rõ cảnh vật, thể hiện nội tâm nhân vật. Đồng thời, để người đọc (người nghe) suy nghĩ về vấn đề nào đó, người viết, người kể và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu ra các nhận xét, ý kiến, lí lẽ để thuyết phục. Nội dung này thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận. Tính chất triết lí của tác phẩm thường được thể hiện ở đây.

    Ông giáo khi nói chuyện với lão Hạc về sự sướng khổ của một kiếp người, đã ôn tồn bảo ông lão :

    – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc ; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng.

    Lão Hạc đã từ chối khéo, xin để khi khác. Nhưng ông giáo nói :

    – Việc gì còn phải chờ khi khác ?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại […].

    Đây chính là lập luận của nhân vật có tính triết lí về sự sướng khổ và thái độ đối với cái sướng ở đời. Điều đó gợi cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống của mình.

    Lỗ Tấn trong Cố hương cũng nghị luận về niềm mong ước, hi vọng gần gũi, xa xôi và sự sùng bái tượng gỗ, sự tin tưởng về niềm hi vọng sẽ biến thành hiện thực, cũng như người ta đi mãi thì thành đường.

    3. Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn tự sự

    Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm là những hình thức quan trọng để thể hiện nhân vật trong văn tự sự.

    Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai hoặc nhiều nhân vật. Đối thoại thể hiện ngôn ngữ của mỗi nhân vật. Ví dụ : Đoạn trích Tức nước vỡ bờ (Ngữ văn 8, tập một) có đối thoại của chị Dậu với bà lão láng giềng, có đối thoại của chị Dậu với cai lệ, đối thoại của chị Dậu với chồng.

    Độc thoại là lời một nhân vật tự nói với chính mình hoặc nói với một người trong tưởng tựợng. Độc thoại có thể được nói ra thành lời, nhưng cũng có thể chỉ là dạng ý nghĩ. Độc thoại thể hiện tâm trạng, cảm nghĩ của nhân vật thì gọi là độc thoại nội tâm. Suy nghĩ của chú bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ : Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay /ấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi được xem là độc thoại nội tâm của nhân vật. Hoặc ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân tự dằn vặt : Nhưng sao lại nảy ra cái tin như ưậy được ? Mà thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói ? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!… Đấy là độc thoại nội tâm.

    Trong những văn bản truyện ngắn, tiểu thuyết, chúng ta thường gặp các hình thức đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm.

    4. Kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận trong văn tự sự

    Như chúng ta đã biết, văn bản tự sự không chỉ dùng một phương thức kể. Nó có thể sử dụng phương thức miêu tả, miêu tả nội tâm ; sử dụng yếu tố nghị luận ; sử dụng hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm để làm phong phú nội dung tự sự. Các yếu tố trên chỉ đóng vai trò phụ trợ, giúp làm cho phương thức tự sự đạt hiệu quả cao. Nếu sử dụng quá, văn bản sẽ không còn là văn bẳn tự sự nữa, mà sẽ trở thành phương thức khác, mang tên khác.

     

    Giải thích các bước giải:

     

    0
    2020-10-18T11:07:04+00:00

    Đáp án:

     

    Giải thích các bước giải:

    . Phân tích tác phẩm
    1. Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là tình huống nào ? Nhận xét về nghệ thuật xây dựng tình huống truyện của tác giả ?
    – Truyện Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước ở người nông dân. Ông Hai trong truyện là người rất yêu cái làng chợ Dầu của mình, luôn hãnh diện khoe về làng, ấy thế mà ông lại phải nghe cái tin làng ông theo giặc, lập tề từ miệng những người tản cư dưới xuôi lên.
    – Nhận xét: Tình huống ấy khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tình yêu nước, mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, thiết tha. Đặt nhân vật vào tình huống gay gắt ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất, mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.
    2. Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.
    a. Trước khi nghe tin dữ : ở nơi tản cư, tình yêu làng của ông hai hoà nhập với tình yêu nước.
    – Xa làng, ở nơi tản cư ông nhớ làng da diết. Nỗi nhớ làng khiến ông thay tâm đổi tính: “Lúc nào ông cũng thấy bực bội, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm, hơi một tí là gắt, hơi một tý là chửi”.
    – Khi được nói chuyện về làng, ông vui náo nức đến lạ thường “Hai con mắt ông sáng hắt lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”.
    – Ông quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, đến các tin chiến thắng của quân ta.
    + Tin một em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cầm quốc kỳ trên tháp rùa.
    + Một anh trung đội trưởng sau khi giết được 7 tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng.
    + Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sóng được tên quan hai bốt ngay giữa chợ mà “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên” – > đso là niềm vui cảu một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc, là niềm vui mộc mạc của một tấm lòng yêu nước chân thành.
    b. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc:
    + Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin.
    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”.
    + Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớ, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.
    => Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.
    + Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây thì phải thù”, tình yêu làng nước đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.
    + Khi mụ chủ nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn. Đi đâu bây giờ? Không ai muốn chứa chấp dân của cái làng Việt gian. Ông thoáng có ý nghĩa “Hay là trở về làng”. Tuy nhiên ông đã gạt bỏ ý nghĩ ấy bởi “Làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ Kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.
    + Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Ngần ấy tuổi đầu mà nước mắt ông cứ ròng ròng khi nghĩ về làng. Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao bởi đó là nỗi đau của một con người danh dự của Làng như chính bản thân mình.
    c. Khi tin đồn được cải chính:
    + Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.
    d. Đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    + Truyện khắc hoạ thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết.
    + Đặc biệt, việc đặt nhân vật vào tình huống cụ thể góp phần thể hiện tính cách, diễn biến tâm trạng nhân vật.
    + Ngôn ngữ nhân vật lúc đối thoại, lúc độc thoại mang đậm chất nông thôn, nhuần nhuỵ mà đặc sắc, gợi cảm.
    – > Chân dung sống động, đẹp đẽ của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến.
    3. Đoạn ông Hai trò chuyện với đứa con út (Ông lão ôm thằng con út lên lòng… cũng vợi đi được đôi phần) cho em cảm nhận điều gì về tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến? Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai có quan hệ như thế nào?
    Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.
    “… Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
    – Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
    – Là con thầy mấy lại con u.
    – Thế nhà con ở đâu?
    – Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
    – Thế con có thích về làng chợ Dầu không ?
    Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
    – Có.
    Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
    – à, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
    Thằng bé dơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
    – ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
    Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
    – ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ.

    Anh em đồng chí có biết cho bố con ông.
    Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
    Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai…”.
    Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.
    Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:
    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu (Ông muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu).
    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ (Anh em đồng chí có biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).
    4. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của tác giả? Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật:
    + Tác giả đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong để bộc lộ chiều sâu tâm trạng.
    + Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.
    – Ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ trong truyện rất đặc sắc, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật ông hai. Những điểm nổi bật trong ngôn ngữ của tác phẩm :
    + Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân.
    + Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai (mặc dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ 3).
    + Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.
    5. Nêu một số truyện ngắn và bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước ? Hãy nêu nét riêng của truyện ngắn Làng so với những tác phẩm ấy.
    * Truyện ngắn – thơ viết về tình cảm quê hương:
    – Lòng yêu nước – E – REN – BUA
    – Quê hương – Đỗ Trung Quân
    – Quê hương – Giang Nam
    – Quê hương – Tế Hanh
    – Lao xao – Duy Khán
    – Buổi học cuối cùng – Đô – đê
    * Nét riêng của “Làng”:
    – Những truyện ngắn và thơ trên đều viết về lòng yêu quê hương đất nước nhưng ở đó tình cảm mới đơn thuần là tình yêu, chưa mang tính khái quát, chưa có tình huống rõ ràng để bộc lộ tình yêu ấy.
    – Còn ở truyện ngắn “Làng”, tình yêu làng ở ông Hai đã trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng của mình.
    – Tình yêu làng quê phải được đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.
    – “Làng” có tình huống được xây dựng hết sức đặc sắc, bất ngờ mà hợp lý. “Làng” là lời khẳng định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến, cho niềm tin.
    * Một số câu hỏi xoay quanh tác phẩm:
    Câu 1 : Nhan đề của truyện là “Làng” sao không phải là “Làng Dầu” chẳng hạn. Từ nhan đề của truyện, em hiểu gì về chủ đề của tác phẩm ?
    Gợi ý :
    a. Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu là “Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng. Dụng ý của tác giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân. Bởi thế “làng” là nhan đề hợp lý với dụng ý của tác giả. Qua đó ta hiểu chủ đề của truyện: ca ngợi tình yêu làng quê tha thiết của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
    Như vậy, nhan đề “làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những người dân quê đất Việt.
    Câu 2: Trong “Làng”, Kim Lân có kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị giặc đốt, đốt nhẵn. Chi tiết này dường như vô lý. ý kiến của em như thế nào? Ghi lại vắn tắt.
    Gợi ý:
    Trong “Làng”, chi tiết kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị đốt nhẵn… Mới đọc chi tiết này, ta thấy dường như vô lý bởi ngôi nhà là cả một tài sản quá lớn. Hơn thế nó còn gắn với bao kỷ niệm vui buồn rất thiêng liêng của mỗi con người. Mất nó ai mà không xót xa đau đớn ? Nhưng ông Hai lại có cử chỉ “Múa tay lên để khoe” đó là biểu hiện của tâm trạng sung sướng, sung sướng đến tột độ. Tâm trạng này dường như có vẻ không bình thường? Không! Đặt ông Hai trong hoàn cảnh của “Làng”, làng Dầu đang bị hai tiếng việt gian theo tây thì ông Hai vui sướng sao được vì nhà bị tây đốt là bằng chứng hùng hồn rằng làng Dầu của ông vẫn theo kháng chiến, theo cách mạng, đó là một làng quê anh hùng, đứng dậy chống thực dân Pháp. Chắc hẳn mất nhà ông Hai cũng đau lắm chứ, xót xa lắm chứ. Nhưng dù thế nào thì nhà còn có thể xây dựng lại được, song danh dự của làng đâu dễ lấy lại? Ông đã quên ??? sự mất mát riêng để tự hào sung sướng trong vẻ đẹp, sức mạnh chung của làng quê, đất nước, thế đấy, niềm vui, nỗi buồn của ông Hai luôn gắn liền với vận mệnh của Làng Dầu. Thế mới biết ông Hai yêu làng quê tha thiết đến chừng nào! Tình yêu làng quê được mở rộng, hoà quện trong tình yêu tổ quốc thật sâu nặng và thiêng liêng.
    Câu 4: Phân tích đoạn:
    – Thế nhà con ở đâu?

    – ừ, đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ:
    Qua đoạn đối thoại này, tâm trạng ông Hai có gì đặc biệt? Điều đó thể hiện nỗi niềm sâu kín của nhân vật này như thế nào?
    Gợi ý:
    – Khổ tâm vì nhầm tưởng làng mình theo Tây, nước mắt giàn giụa trên má (Tâm trạng đau khổ).
    – Bộc lộ tình yêu làng, yêu nước của ông. Những day dứt, trăn trở trong lòng ông, ông như muốn khẳng định tình yêu làng chợ Dầu và sự trung thành với cách mạng, với kháng chiến.
    – Ông hỏi con những câu tưởng rất vu vơ, bởi đon giản ông muốn được nghe về làng chợ Dỗu, được thấy con trẻ nhắc đến ngôi làng mà mình yêu quý.
    – Vì lầm tưởng làng theo giặc – > cả hai bố con ông đều trả lời khe khẽ, thủ thỉ. Ông Hai xấu hổ cho làng ông, cho người dân quê ông: “hai bên mả…” chứng tỏ ông rất khổ tâm.
    – Cách thể hiện tình yêu của ông Hai rất mộc mạc và chân thành. Câu trả lời của đứa con út: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm” hay chính là nỗi lòng của ông: ông chuyện trò với con hay đang giãi bày cho vơi bớt nỗi khổ, sự tủi hổ, dằn vặt đang ám ảnh trong lòng ông suốt mấy hôn nay.
    => Những dòng đối thoại ngắn gọn, giản dị, sâu sắc, chân quê đã thể hiện được nỗi lòng sâu kín trong lòng ông Hai Thu.

    0
    2020-10-18T11:07:19+00:00

    Để tìm câu trả lời chính xác các em hãy tham khảo đối thoại độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự ngắn nhất các nguồn hoc24.vn, lazi.vn, hoidap247.com để thầy cô và các chuyên gia hỗ trợ các em nhé!

Leave an answer

Browse

Giải phương trình 1 ẩn: x + 2 - 2(x + 1) = -x . Hỏi x = ? ( )