Nhận định về Truyền Thuyết , tác giả Đỗ Bình Trị nhận định : “Truyền Thuyết không phải là những tài liệu lịch sử , nó là những sáng tác nghệ thuật về

Question

Nhận định về Truyền Thuyết , tác giả Đỗ Bình Trị nhận định : “Truyền Thuyết không phải là những tài liệu lịch sử , nó là những sáng tác nghệ thuật về đề tài lịch sử ” . Dựa vào “Truyện ADV và MC-TT ” hãy làm sáng tỏ nhận định.

in progress 0
Thu Giang 1 year 2020-11-07T20:30:35+00:00 3 Answers 62 views 0

Answers ( )

    0
    2020-11-07T20:32:31+00:00

    MB : – Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận : Vai trò quan trọng của truyền thuyết đối với việc phản ánh lịch sử

    – Trích dẫn ý kiến. 

    – Lựa chọn tác phẩm ” Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” làm minh chứng.

    TB : 

    1. An Dương Vương xây thành, chế nỏ. đánh giặc.

    – Tiếp nối sự nghiệp vua Hùng, An Dương Vương rời đô từ Phong Châu về vùng đồng bằng Phong Khê để ổn định và phát triển đất nước.

    ⇒ Rời đô, xây thành là một quyết định sáng suốt của vị minh quân

    – Nhưng việc xây thành gặp nhiều khó khăn đắp tới đâu lở tới đấy. An Dương Vương đã lập đàn trai giới, đón tiếp cụ già ở phương xa, ra cửa Đông đón Rùa Vàng

    ⇒ An Dương Vương luôn trăn trở, suy nghĩ cho vận mệnh đất nước, biết trọng hiền tài.

    – An Dương Vương cho xây thành cao rộng, hình xoắn ốc

    ⇒ Tài năng quân sự, có tầm nhìn xa.

    – Khi Rùa thần từ biệt, nhà vua băn khoăn“Nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”

    ⇒ Ý thức trách nhiệm và tinh thần cảnh giác của nhà vua.

    – Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi kẻ thù, giặc xâm lược. Hình ảnh chiếc nỏ thần mang nhiều ý nghĩa:

         + Là sức mạnh thần linh ban tặng cho nhà nước Âu Lạc.

         + Tượng trưng cho sức mạnh của nhà nước Âu Lạc, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù.

         + Là biểu tượng của tinh thần đoàn kết và thể hiện trình độ sản xuất của nhân dân thời kì ấy.

    Đánh giá nội dung và nghệ thuật 

    – Nội dụng:

         + An Dương Vương là một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, biết trọng người tài, được sự đồng tâm, giúp đỡ của cả trời đất và nhân dân.

         + Thể hiện tiếng nói ca ngợi của nhân dân về An Dương Vương

         + Niềm tự hào về sự đoàn kết, lớn mạnh, những chiến công và trình độ phát triển của nhân dân thời kì lịch sử ấy.

    – Nghệ thuật:

         + Các chi tiết hư cấu, tưởng tượng (Cụ già, Rùa vàng)

         + Kết hợp sự thật lịch sử và các chi tiết hư cấu.

    2. Bài học mất nước gắn với những sai lầm của An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

    a. Những sai lầm của An Dương Vương.

         + Lơ là, mất cảnh giác: An Dương Vương đã gả con gái cho con trai kẻ thù và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể.

         + Chủ quan, khinh địch, ỷ vào sức mạnh của thành trì, vũ khí: Quân Triệu đà sang xâm lược nhà vua vẫn ung dung đánh cờ.

         + Hành động của An Dương Vương ở cuối truyện tuốt gươm đâm chết Mị Châu quyết liệt, dứt khoát, thể hiện sự thức tỉnh muộn màng, hi sinh tình cha con vì trách nhiệm với đất nước.

         + Hình ảnh kì ảo An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rẽ một đường xuống biển thể hiện sự bất tử của nhà vua và sự trân trọng của nhân dân với nhà vua.

    b. Bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

       * Nhân vật Mị Châu:

         + Mị Châu hết lòng yêu thương và tin tưởng chồng: Đưa Trọng Thủy đi thăm thú Âu lạc, cho chồng xem nỏ thần và dạy cách sử dụng, rắc lông ngỗng chỉ đường để Trọng Thủy đi tìm.

         + Mị Châu nhẹ dạ cả tin mù quáng, bị Trọng Thủy lừa dối cướp nỏ thần chạy về nước, trước những lời nói kì lạ của Trọng Thủy không mảy may nghi ngờ.

         + Lời nguyền trước lúc chết của Mị Châu là lời thức tỉnh cũng là lời thanh minh cho tấm lòng nàng.

         + Cái chết của Mị Châu là sự trừng phạt nghiêm khắc của nhân dân đối với những sai lầm nghiêm trọng của nàng.

         + Chi tiết “Mị Châu chết ở bờ biển máu chảy xuống nước, sò ăn phải đều hóa thành hạt châu” cho thấy cái nhìn cảm thông nhân hậu của nhân dân ta, vì xét cho cùng Mị Châu cũng là một nạn nhân.

       * Nhân vật Trọng Thủy:

         + Là tên gián điệp nguy hiểm, trực tiếp gây ra bi kịch của hai cha con An Dương Vương: Lợi dụng tình yêu và sự ngây thơ của Mị Châu để lừa dối, ăn cắp nỏ thần, dụ Mị Châu rắc lông ngỗng dẫn đường.

         + Đau lòng, xót thương vợ, hối hận muộn màng. Trọng Thủy cũng là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa: Sau khi Mị Châu chết, ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ, lao đầu xuống giếng tự tử.

         + Chi tiết ngọc trai – giếng nước mang ý nghĩa hóa giải sự hận thù, thể hiện tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những lội lầm đáng tiếc của hai nhân vật.

    c. Bài học cho bi kịch mất nước:

         + Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu kẻ thù.

         + Luôn củng cố sức mạnh của dân tộc, không ỷ vào thành cao hào sâu vũ khí sắc bén mà chủ quan, khinh địch, lơ là cảnh giác.

         + Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa gia đình với quốc gia, dân tộc, cá nhân với tập thể.

    Đánh giá nội dung và nghệ thuật : 

     – Nội dung:+ Giải thích nguyên nhân mất nước của nước Âu Lạc cùng những bài học quý giá

         + Thể hiện thái độ bao dung của nhân dân đối với những tội nhân cũng là nạn nhân của chiến tranh.

    – Nghệ thuật: + Sự kết hợp cốt lõi lịch sử và yếu tố kì ảo.

         + Các chi tiết kì ảo, giàu ý nghĩa (Rùa Vàng hiện lên, hình ảnh An Dương Vương xuống biển, ngọc trai giếng nước)

    KB : Khẳng định ý kiến trên là vô cùng xác đáng

    – Khẳng định giá trị và bài hcoj lịch sử được phản ánh qua truyện ” An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”

    ** Bài viết tham khảo

    Văn học dân gian Việt Nam là một kho tàng đồ sộ và to lớn, lưu giưc nhiều câu chuyện hay chứa đựng ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Một trong những thể loại thể hiện rõ nhất điều này là truyền thuyết. Nhận định về truyền thuyết , tác giả Đỗ Bình Trị nhận định : “Truyền thuyết không phải là những tài liệu lịch sử , nó là những sáng tác nghệ thuật về đề tài lịch sử “. Và ” Truyện An Dương Vương vfa Mị Châu, Trọng thủy” là một minh chứng cho điều này.

     Như chúng ta đã biết, lịch sử của dân tộc ta là lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử ấy không những được lưu giữ cẩn thận trong nhân gian mà còn trở thành nơi để gửi gắm tâm tư tình cảm, lẽ sống ở đời của nhân dân. Lấy cảm hứng từ sự kiện lịch sử, Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy đã được dân gian hóa rất nhiều. Cốt lõi lịch sử chỉ còn là cái bóng để làm câu chuyện thêm chân thực và hấp dẫn.

    Chuyện kể về lịch sử của nước ta thời An Dương Vương. An Dương Vương lên ngôi vua, xây thành Cổ Loa để bảo vệ đất nước, nhưng thành cứ xây xong lại đổ. Rùa vàng hiện lên giúp vua trừ yêu quái. Thành xây xong,Rùa Vàng lại giúp vua làm nỏ thần để chống giặc. Triệu Đà nhiều lần tấn công thành thất bại, bèn nghĩ kế cầu hoà, cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ dỗ Mỵ Châu cho xem bí mật nỏ thần rồi lén làm chiến nỏ giả đem đánh tráo.

    Trọng Thuỷ về nước, chia tay Mỵ Châu. Mỵ Châu hẹn lấy lông ngỗng làm dấu để tìm nhau. Triệu Đà lấy được nỏ thần, ra lệnh tấn công. An Dương Vương thua, cùng Mỵ Châu chạy trốn. Đến cùng đường, biết Mỵ Châu là thủ phạm bèn chém chết Mỵ Châu rồi cùng Rùa Vàng rẽ nước xuống biển. Trọng Thủy đuổi theo đến bờ biển, ôm xác Mỵ Châu về táng tại Loa Thành, rồi vì nhớ thương nàng mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Trai biển đông ăn được máu của Mỵ Châu nên hoá ngọc. Đời sau đem ngọc trai biển đông rửa vào nước giếng Trọng Thuỷ thì ngọc sáng hơn.

    Tuy là một nhân vật lịch sử, nhưng ở trong truyện này, An Dương Vương được xây dựng khá toàn diện, mang đậm dấu ấn văn học.

    Gắn với di tích còn để lại cho đến ngày nay và sự kiện lịch sử xây dựng thành cổ loa, có thể thấy đây chưa hẳn là một câu chuyện cổ do trí tưởng tượng phong phú của con người dệt thành. Giá trị lịch sử của câu chuyện thể hiện ở việc An Dương Vương là người xây thành Cổ Loa.

    Việc xây thành Cổ Loa vô cùng gian nan. Do Kê Tinh quấy phá, thành xây đến đâu sập đổ đến đó, tiêu tốn không biết bao nhiêu công sức của nhân dân. Chính An Dương Vương là người hóa giải được tai họa đó. Nhờ có rừa thần mách bảo, Kê Tinh bị tiêu diệt, thành được xây xong. Rùa thần lại còn ban cho móng thần làm nỏ thân bách phá bách trúng. nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đã chiến thắng quân Triệu Đà, giữ vững giang sơn. Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương, Âu Lạc vô cùng vững mạnh, khiến cho kẻ thù khiếp sợ.

    Việc xây thành Cổ Loa của An Dương Vương có sự giúp đỡ của thần linh là một sáng tạo của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân. Do yêu tinh quấy phá mà thành xây mãi vẫn chưa xong. Nhà vua lập đàn khấn vái bách thần, trai giới cầu an. Nhờ cụ già mách bảo lại thêm sứ Thanh Giang giúp sức. Chỉ trong nửa tháng, thành đã xây xong.

    Việc xây thành nhanh đến thế chỉ có thần linh mới làm được. Thần linh giúp An Dương Vương bởi vì đã có ý thức đề cao cảnh giác khi giặc chưa đến mà lo phòng bị. Điều đó khẳng định hành động của An Dương Vương là chính nghĩa hợp ý trời và được lòng dân. Đồng thời nở thần là sự kì ảo hóa bí mật vũ khí tinh xảo của người Việt xưa. Hình ảnh thần linh và sức mạnh thần kì chính là ước mơ của nhân dân về một sức mạnh tương trợ để giữ nước trong buổi đầu sơ khai của lịch sử.

    Việc An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa thành công phản ánh sự gian nan vất vả của công việc bảo vệ và xây dựng đất nước, ca ngợi công lao to lớn của An Dương Vương, tự hào về chiến công xây thành, chế nỏ, chiến tháng ngoại xâm của dân tộc. Chi tiết ấu cũng khẳng định sức mạnh của chính nghĩa, tinh thần đoàn kết, đề cao tinh thần cảnh giác, phòng chống giặc ngoại xâm.

    Tiếp sau công cuộc xây thành là công cuộc giữ nước trước sự xâm lược của kẻ thù. Do mắc phải nhiều sai lầm nên An Dương Vương không mãi đứng trên đỉnh vinh quang của chiến thắng mà đã gặp phải những thất bại cay đắng. Nỏ thần rất linh nghiệm, song bao giờ cũng vậy, thắng lợi mà dựa vào vũ khí, con người sinh ra chủ quan. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mất cảnh giác, dẫn đến hậu quả khôn lường.

    Triệu Đà là kẻ tham lam và đầy mưu mô nhìn thấy đất nước Âu Lạc trù phú, hắn muốn cướp lấy. Lần thứ nhất xuất quân vội vã, Triệu Đà chuốc lấy thất bại nặng nề nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược. Hắn sai con là Trọng Thủy sang cầu hòa và ngỏ ý muốn kết duyên cùng Mị Châu, con gái An Dương Vương. Không lường hết được âm mưu thâm hiểm của kẻ thù, An Dương Vương đã gả Mị Châu cho Trọng Thủy. Sau cuộc hôn nhân, Trọng Thủy với vị trí là phò mã được đi lại tự do và thực hiện mưu đồ tìm hiểu về vũ khí bí mật quốc gia.

    Cậy có nỏ thần, khi Triệu Đà kéo quân sang trước cổng thàng, An Dương Vương còn chủ quan khinh địch: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Nói rồi vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Hành động điềm nhiên chơi cờ và cười “Đà không sợ nỏ thần sao?” cho thấy An Dương Vương quá tự tin, tự đắc, dựa dẫm hết vào sức mạnh của vũ khí thân kì. Sự chủ quan và mất cảnh giác đó là nguyên nhân dẫn đến nước mất, nhà tan. Cho đến khi quân giặc đã áp cổng thành, An Dương Vương vẫn điềm tĩnh. Có ngờ đâu, nỏ thần đã không còn, thành bị phá trong tích tắt, An Dương Vương phải vội lên ngựa chạy thoát thân.

    An Dương Vương chỉ thực sự thức tỉnh khi nghe tiếng thét của Rùa Vàng. Sự thức tỉnh của An Dương Vương tuy muôn màng nhưng rất cần thiết để cứu vãn tình thế.

    Chi tiết nhà vua tự tay chém chết con gái yêu quí nhất của mình là hành động vì nghĩa diệt thân, đặt lợi ích quốc gia lên trên tình nhà. Qua đó, nhân dân gửi gắm tấm lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm của vị vua, hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc, cũng là sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua, sự phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu. Hình ảnh Rùa Vàng là lời giải thích lí do mất nước nhằm xoa dịu nỗi đau mất của nhân dân ta. Chi tiết cũng thể hiện tấm lòng vị tha cao cả của nhân dân đối với những lỗi lầm của lịch sử.

    Thức tỉnh, An Dương Vương đã tự tay chém đầu con gái. Đó là hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc, cũng là sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua. Chi tiết mang tính bi kịch sâu sắc. Sau cùng, An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rồi theo gót Rùa vàng xuống biển. Nhân dân đã huyền thoại hoá, bất tử hoá người anh hùng, mong muốn người anh hùng bất tử để tiếp tục giữ gìn ý chí đấu tranh lấy lại đất nước của nhân dân.

    Motip huyền thoại hóa, bất tử nhân vật anh hùng thể hiện chiều sâu triết lí của nhân dân. Nếu Thánh Gióng sau khi chiến thắng giặc Ân, đã một mình phi ngựa lên núi Sóc, cởi áo giáp sắt để lại rồi từ từ bay về trời. Ý nghĩa câu chuyện chỉ khi ngẩng mặt lên cao vời mới nhìn thấy rõ hết được công đức của bạc thánh quân. Đó là một kết thúc rực rỡ, hoành tráng vì nhân vật không mắc phải sai lầm hay thất bại nào. Còn ở An Dương Vương lại khác. Ông cầm sừng tê, cùng Rùa Vàng rẽ nước đi xuống thủy cung. Ông là sai lầm và thất bại, là nỗi nhực nhã của quốc gia nếu chỉ nhìn đơn giản. Phải cúi đầu nhìn xuống thăm thẳm sâu mới có thể thấy hết tấm lòng của nhà vua đối với nhân dân, đối với với đất nước. Nhà vua đã tận tuyệt tình riêng để giương công lí.

    Bên cạnh nhân vật An Dương Vương, mối tình Mị Châu và Trọng Thủy cũng chứa đựng nhiều uẩn khúc khó giải bày. Cuộc hôn nhân giữa Mị Châu và Trọng Thủy mang tính chính trị sâu sắc. Nhân vật Mị Châu vừa đáng thương, lại vừa vừa đáng trách. Đáng thương là bởi nàng chỉ là một vật lợi dụng của cha conTriệu Đà. Ở mặt này, nàng hoàn toàn vô tội. Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần chỉ thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước. Vì:Nỏ thần thuộc về tài sản quốc gia, là bí mật quân sự.

    Vì thế, Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần là việc vi phạm nguyên tắc của bề tôi đối với nhà vua và đất nước, biến nàng thành giặc, đáng bị trừng phạt. Khi cùng cha chạy trốn lại còn rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy, chỉ đường cho giặc đuổi theo truy sát. Nàng bị Rùa Vàng kết tội là giặc, là kẻ phản quốc. Sau đó còn bị chính cha của mình giết chết. Trong các nhân vật, Mị Châu là người phải gánh chịu nhiều oan khuất nhất.

    Tình yêu, tình cảm vợ chồng (trái tim) không thể đặt lầm chỗ lên trên lí trí, nghĩa vụ với đất nước (đầu). Mất nước dẫn đến nhà tan nên không thể đặt lợi ích cá nhân lên lợi ích cộng đồng. Nàng đa gián tiếp tiếp tay cho kẻ thù nên bị trừng phạt nghiêm khắc.

    Kẻ gây ra bi kịch thảm khốc đối với Mị Châu không ai khác chính là Trọng Thủy, chòng của nàng. Trọng Thủy đến với Mị Châu với một âm mưu chính trị thâm hiểm, đê tiện: lợi dụng mối tình để tìm hiểu và chiếm đoạt bí mật quốc gia. Hắn lừa Mị Châu cho xem nỏ thần rồi lén lút đánh tráo nỏ thần mang về nước. Chính trọng Thủy cũng là kẻ cầm quân tấn công nước Âu Lạc và đuổi theo cha con An Dương Vương. trọng Thủy tuy hoàn thành nghĩa vụ với quốc gia nhưng bỏ quên tình cảm vợ chồng.

    Qua câu chuyện, ta thấy rõ, Mị Châu là người con gái nhẹ dạ, cả tin, yêu chồng sâu sắc, đặt tình cảm cá nhân lên trên vận mệnh với đất nước. Nàng vừa đáng giận vừa đáng thương. Trọng Thủy vừa là kẻ thù, vừa là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Hành động của Trọng Thủy cũng chỉ là sự nghe lời vua cha mà đánh mất đi hạnh phúc của chính mình mà thôi. Chỉ có Trọng thủy mới minh oan được cho Mị Châu.

    Nhân dân trong khi “phê phán Mị Châu bằng bản án tử hình” vì những lỗi lầm gây tổn hại cho đất nước một cách đích đáng. Nhân dân lại cũng thấu hiểu rằng Mị Châu mắc tội không do chủ ý mà chỉ do vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ. Bởi thế họ đã cho lời khấn của nàng linh ứng.

    Nhân vật Trọng Thuỷ là nhân vật có nhiều tính cách phức tạp. Vì nghe lời cha, đặt nhiệm vụ lợi ích quốc gia lên trên nên trở thành kẻ vô tình bạc nghĩa, đã phụ tình yêu chân thành ngây thơ của Mị Châu. Khi biết tội lỗi của mình thì rất hối hận. Hình ảnh của Mị Châu ám ảnh con người bội bạc ấy đã dẫn đến cái chết thảm thương cho nhân vật. Trộng thủy đã nhảy xuống giếng tự tử.

    Hắn bạc tình phụ nghĩa, hành vi bất chính, hèn hạ. Thế nên phải nhận lấy một kết cục đau đớn. Trọng Thủy mất vợ, mất tình yêu, phải sống trong day dứt, ăn năn. mất trí, Trọng Thủy lao đầu xuống giếng tự tử để đền tội. Không những thế, hắn còn bị lên án là kẻ gián điệp, phản bội.

    Thế nhưng, nhân dân cũng đã có một cái nhìn bao dung, độ lượng đối với Trọng Thủy.  Với Trọng Thủy, nước giếng thể hiện nỗi ân hận vô hạn và chứng nhận muốn giải tội của Trọng Thuỷ.

    Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một sánh tạo đọc đáo của nhân dân. Hình ảnh ngọc trai phù hợp với lời ước nguyện của Mị Châu. Ngọc trai chứng minh cho tấm lòng trong sáng của nàng. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước chính là sự hóa giải oan tình của Mỵ Châu. Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại càng sáng đẹp hơn cho thấy Trọng Thuỷ đã tìm được sự hoá giải của Mị Châu ở thế giới bên kia. Với hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” này, nhân dân ta đã có sự phán xét thấu lí đạt tình, vừa nghiêm khắc vừa nhân ái đối với con người lầm lỗi. Nhân dân với tấm lòng bao dung, vị tha luôn rộng lòng tha thứ cho những người vô tình phạm tội như Mị Châu hay những kẻ biết ăn năn hối hận như Trọng Thuỷ.

     Có thể khẳng định ý kiến trên là vô cùng chính xác.Truyền thuyết ” An Dương Vương và Mị Châu-trọng Thủy ” đã để lại nhiều bài học lịch sử sâu sắc.  Nó nhắc nhở vè trách nhiệm của người lãnh đạo, người đứng đầu quốc gia phải có ý thức cảnh giác đối với kẻ thù, có tầm nhìn xa rộng, quyết sách đúng đắn đối với vận mệnh của dân tộc. Trong quan hệ tình cảm, phải có cách giải quyết mối quan hệ riêng – chung đúng mực, có sự phân biệt rạch ròi giữa tình nhà và nợ nước.

    0
    2020-11-07T20:32:34+00:00

    I, Dàn ý tham khảo

    1, Mở bài

    – Giới thiệu về nhận định 

    2, Thân bài

    – Giải thích nhận định

    – Nêu khái quát những đặc điểm về truyền thuyết

    – Chứng minh: qua truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu – Trọng Thủy

    – Bình luận

    + Nhận định trên là hoàn toàn đúng

    – Liên hệ

    3, Kết bài

    – Khẳng định tính đúng đắn của nhận định trên

    II, Bài văn tham khảo

    Nhận xét về thể loại truyền thuyết, tác giả Đỗ Bình Trị đã khẳng định rằng: “Truyền Thuyết không phải là những tài liệu lịch sử, nó là những sáng tác nghệ thuật về đề tài lịch sử”. Điều này được thể hiện rõ nét qua truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu – Trọng Thủy.

    Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về những sự kiện và nhân vật có liên quan đến lịch sử, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyện thể hiện cách đánh giá và thái độ của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử được kể đến.

    Trong truyền thuyết, nhân vật có liên quan đến lịch sử nhưng không phải là nhân vật lịch sử. Nhân vật trong truyền thuyết thường có xu hướng lý tưởng hoá: nhân dân gửi vào đó ước mơ, khát vọng của mình. Thứ nhất, về nhân vật An Dương Vương. Ông là người có công lao, vài trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Âu Lạc. An Dương Vương vừa là một vị vua có thực trong cổ sử Việt Nam, vừa là nhân vật gắn với nhiều hư cấu li kì trong truyền thuyết. Truyền thuyết kể lại rằng, Hùng Vương thứ 18 thấy Thục Phán là người có tài, nghĩ mình không có con trai, nên theo lài khuyên của Sơn Tinh đã truyền lại ngôi báu cho Thục Phán. Cũng theo truyền thuyết, sau khi được truyền ngôi báu, An Dương Vương đã dời đô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh về vùng đồng bằng Cổ Loa. Việc làm đó đã thể hiện ý chí và quyết sách sáng suốt của An Dương Vương, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của nhà vua. (Bởi về đồng bằng là xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước. Đồng bằng với đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi đào, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Đồng bằng với sông ngòi ngang dọc trùng xếp, đi thuyền, đi bộ đều dễ dàng. Nếu nội lực chưa đủ mạnh thì rừng núi hiểm yếu chính là chỗ dựa an toàn nhất, nhưng muốn phát triển thì rừng núi không phải là nơi đắc địa.)

    Dời đô là quốc sách, nhưng cũng có nghĩa là phơi lưng ra giữa đồng bằng, thách thức đối phương. An Dương Vương thấy trước mối đe doạ đó, nên ngay sau khi quyết định dời đô về giữa Cổ Loa trống trải, người đã cho xây thành đắp lũy, sẵn sằng phòng thủ giặc ngoại xâm. Công việc xây thành của nhà vua gặp rất nhiều khó khăn, thành “hễ cứ đắp tới đâu lại lở tới đấy”, “tốn nhiều công sức mà không thành” nhưng với lòng yêu nước, với bản lĩnh vững vàng, không sợ khó, sợ khổ, không nản chí trước thất bại tạm thời, nhà vua đã không bỏ cuộc mà kiên trì, quyết tâm xây thành giữ nước. Việc An Dương Vương lập đàn trai giới cầu đảo bách thần, việc nhà vua đón mời cụ già có tướng lạ vào điện hỏi kế sách, ra tận cửa Đông đón xứ Thanh Giang, dùng xe bằng vàng rước Rùa Vàng vào thành đã thể hiện quyết tâm đó của nhà vua. 

    Được sự giúp đỡ của Rùa Vàng, An Dương Vương đã xây được Loa Thành kiên cố, là thành trì vững chắc để chống lại kẻ thù xâm lược. Tuy nhiên, tồn tại ngay giữa đồng bằng vắng vẻ, hơn ai hết An Dương Vương là người hiểu rõ, có thành cao hào sâu cũng chưa chắc giúp được Âu Lạc đã chống lại được kẻ thù nếu như không có vũ khí lợi hại. Đó cùng là điều mà nhà vua băn khoăn nhất sau khi xây được Loa Thành. Cảm động trước tấm lòng vì dân, vì nước của nhà vua, Rùa Vàng đã cảm động tháo vuốt của mình cho An Dương Vương để làm lẫy nỏ thần. Vua lại sai Cao lỗ lào nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy thành nỏ thần có sức mạnh ghê gớm. Nhờ có Quỷ Long Thành- một hệ thống phòng thủ vô cùng kiên cố, có “Linh quang Kim thần cơ”, một loại vũ khí tấn công từ xa hiệu nghiệm, An Dương Vương đã đánh tan quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược Âu Lạc, khiến chúng thua lớn “chạy về Trâu Sơn đắp luỹ không dám đối chiến, bèn xin hoà”. 

    Phản ánh các sự kiện lịch sử có liên quan tới An Dương Vương trong truyền thuyết, nhân dân ta đã phần nào kì ảo hoá các yếu tố lịch sử khách quan. Và chính việc sáng tạo nên những yếu tố kì ảo đan xen với các yếu tố lịch sử đã khiến cho câu chuyện thêm lung linh, kì ảo, tăng trính khái quát, ý nghĩa biểu trưng của các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Chi tiết nhà vua xây thành được rùa vàng giúp đỡ, chi tiết rùa vàng cho vuốt để An Dương Vương chế tạo nỏ thần đã khẳng định việc làm của An Dương Vương được làng dân, hợp lòng trời nên được cả thần và người cùng giúp đỡ. Đó là một cách để nhân dân ta ngợi ca công đức của nhà vua, tự hào về những chiến công và thành tựu của nhân dân thời Âu Lạc.

    Như vậy ở phần đầu của tác phẩm, với vị trí là vua nước Âu Lạc, là người lãnh đạo cao nhất của một quốc gia, An Dương Vương đã khẳng định vai trò và công lao to lớn của mình trong buổi đầu xây dựng và bảo vệ đất nước. Là một vị vua yêu nước, luôn có tinh thần trách nhiệm trước đất nước, nhà vua xứng đáng được nhân dân đời đời mến phục ngợi ca. 

    Bi kịch nước mất, nhà tan là trọng tâm trong phần thứ hai của tác phẩm. Trong phần này, tác giả dân gian tập trung phản ánh và khắc hoạ những nguyên nhân dẫn tới việc mất nước Âu Lạc và thể hiện thái độ, tình cảm của mình trước trách nhiệm của mỗi nhân vật liên quan.

    Về phía An Dương Vương, nhà vua là người xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, là người có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước nhưng cũng mắc sai lầm nghiêm trọng, là một trong những nguyên nhân chính đẩy Âu Lạc rơi vào thảm kịch ngàn năm Bắc thuộc, lịch sự không thể tha thứ.

    Khi đánh giá trách nhiệm của An Dương Vương trong sự thất bại của Âu Lạc, một số người cho rằng, An Dương Vương sai lầm ngay từ khi nhận lời cầu hôn của Triệu Đà, gả con gái mình cho con trai hắn. Nhà vua đã chủ quan, mơ hồ không nhận rõ âm mưu của kẻ thù xâm lược. Nhưng trong lịch sử Việt Nam và thế giới cũng đã có không ít những cuộc hôn nhân chính trị như vậy mà mục đích thtường là để mang lại sự bình an cho đất nước. Xưa, nhà Hán ở Trung Quốc có Chiêu Quân cống Hồ,. Sau này, ở nhà Trần Việt Nam có Huyền Trân công chúa được gả cho vua Chiêm Thành,… Như vậy có thể nói, trong chính trị, hôn nhân nhiều khi chính là giao ước liên minh trong hoà bình, nhất là khi đó Âu Lạc đã từng trải qua nhiều năm chiến tranh, một cuộc hôn nhân làm giảm bớt lửa binh đao chẳng phải là hay hơn cho cư dân hai nước? An Dương Vương nhận lời cầu hôn của cha con Triệu Đà ccó lẽ cũng vì hi vọng xây dựng một liên minh tốt đẹp trong hoà bình. Tiếc rằng liên minh đó đã không thành bởi An Dương Vương thực lòng còn cha con Triệu Đà lại có sẵn âm mưu xâm lược.

    Thứ hai, về nhân vật công chúa Mị Châu. Mị Châu là con gái của ADV Thục Phán, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải chịu trách nhiệm lớn trước bi kịch “nước mất nhà tan”.

    Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, người lên án, kẻ bênh vực.

    Những người bênh vực thì đã lấy đạo “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), một quan điểm đạo đức thời phong kiến để bênh vực cho nàng. Theo họ, Mị Châu là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, lấy chồng thì một lòng tin yêu chồng. Sao có thể trách nàng mất cảnh giác với cả chồng mình được? Vì vậy việc Mị Châu không giấu giếm Trọng Thuỷ điều gì là vô tội. Nhưng họ đã quên rằng, trong một đất nước nhiều giặc giã, một nàng công chúa lại chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà vô tình với vận mệnh quốc gia là có tội. Mị Châu tin yêu chồng không có gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một người dân đối với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dù đó chỉ là do sự nhẹ dạ, vô tình. Nếu sự mất cảnh giác của ADV là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hoạ nước mất. Mị Châu tin yêu chồng bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu. Trọng Thuỷ đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Ta nay trở về thăm cha… làm giấu.” Mị Châu đáp: “Thiếp có… làm dấu”. Trọng Thuỷ vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, lẫy nỏ không còn, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải biết đó là âm mưu của Trọng Thuỷ, thế mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn rắc lông ngỗng làm dấu, có khác gì chỉ đường cho giặc đuổi theo mình. Việc làm đó của nàng đã trực tiếp dẫn tới bi kịch nhà tan. Vì vậy, không thể cho rằng làm một người vợ thì Mị Châu phải tuyệt đối nghe và làm theo lời chồng. Không thể cho rằng nàng là người vô tội, không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì trước bi kịch nước mất nhà tan. Tội lỗi của nàng là hết sức nặng nề. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha. 

    Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình, vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra không phải là chủ ý của nàng mà do nàng quá nhẹ dạ, yêu chồng bị lừa dối mà mắc tội. Hơn nữa, cuối cùng, nàng cũng đã tỉnh ngộ nhận ra kẻ thù và chấp nhận một cái chết đau đớn. Mị Châu có tội nàng đã phải đền nhưng nỗi oan của nàng cũng cần được giải. Sáng tạo nên chi tiết thần kì, ứng nghiệm với lời cầu khấn trước khi chết của Mị Châu, nhân dân ta đã bày tỏ thái độ bao dung, niềm cảm thông mà minh oan cho nàng. Đồng thời, thông qua chi tiết thần kì đó, ông cha ta cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của mình và truyền lại một bài học lịch sử muôn đời cho con cháu trong việc giải quyết mối quan hệ riêng – chung.

    Thứ ba, về nhân vật Trọng Thuỷ. Trọng Thuỷ là một trong ba nhân vật chính của tác phẩm. Hắn là con trai của Triệu Đà, con dể của An Dương Vương, là chồng của Mị Châu công chúa. Sang Âu Lạc theo mưu kế nham hiểm của cha mình, Trọng Thuỷ lấy Mị Châu không phải vì tình yêu mà chỉ để lợi dụng nàng thực hiện một mưu đồ chính trị, để hoàn thành nhiệm vụ gián điệp được cha hắn giao phó mà thôi. Và với danh nghĩa một người chồng, Trọng Thuỷ đã hoàn thành xuất sắc vai trò gián điệp ấy. Hắn đã lợi dụng Mị Châu, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, lừa gạt tình cảm của nàng để đánh cắp nỏ thần và nham hiểm hỏi Mị Châu một câu hỏi đầy dụng ý trước khi về nước với mục đích để biết cách tìm đường đuổi theo An Dương Vương nếu nhà vua chạy trốn. Chính những việc làm này của hắn là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bi kịch nước mất nhà tan của cha con ADV và nhân dân Âu Lạc. Hắn chính là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc, là một kẻ rất đáng bị vạch mặt, lên án, tội lỗi đời đời.

    Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, Trọng Thuỷ cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược. Trong tay của Triệu Đà, Trọng Thuỷ không hơn không kém cũng chỉ là một con bài chính trị mà thôi. Hơn nữa, mặc dù là một kẻ độc ác, Trọng Thuỷ cũng không phải hoàn toàn đã mất hết nhân tính của một con người. Chính lời nói của Trọng Thuỷ với Mị Châu trong lúc chia tay, hành động tự vẫn sau chuỗi ngày sống trong sự dày vò, ân hận của hắn đã nói lên điều đó.

    Trước lúc chia tay về nước dâng lẫy nỏ thần cho Triệu Đà, Trọng Thuỷ đã nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng… làm dấu”. Đây không hoàn toàn là những lời dối trá, lạnh lùng mà nó ẩn chứa ít nhiều tình cảm bùi ngùi, một nỗi đau li biệt. 

    Tính người của Trọng Thuỷ còn được thể hiện rõ hơn rất nhiều ở phần cuối cùng của tác phẩm khi tác giả dân gian miêu tả tâm trạng của Trọng Thuỷ sau cái chết của Mị Châu. Không đắm mình trong hào quang, danh vọng, trong hạnh phúc của sự thống trị uy quyền, sau khi Mị Châu chết, Trọng Thuỷ luôn sống trong nỗi niềm thương nhớ, trong nỗi ân hận dày vò và cuối cùng bế tắc, cùng đường hắn đã tự tìm cho mình cái chết. Trọng Thuỷ quyên sinh không phải chỉ là hành động sám hối cho một sai lầm mù quáng, mà còn là sự thức tỉnh của nhân tính, sự phủ nhận chiến tranh, sự từ chối mọi vinh quang quyền lực tìm về với cõi thiên thu để có được một tâm hồn thanh thản.

    Không thể không nhắc đến hiện thực và tưởng tượng trong truyền thuyết. Hiện thực trong truyền thuyết là hiện tượng xã hội loài người nhưng được bó hẹp trong phạm vi từ bộ tộc đến bộ lạc, rồi tiến dần đến nhà nước có xã hội chuyên chế. Nhân dân thường dùng yếu tố tưởng tượng kì ảo để thể hiện tính tưởng tượng trong truyền thuyết. Những yếu tố ấy không có thật ngoài đời nhưng có thật trong tâm tình của nhân dân với lịch sử. Trong truyền thuyết An Dương Vương thì nổi bật lên là hình ảnh ngọc trai – giếng nước. Đây là hình ảnh đẹp, kết tinh của mối tình thuỷ chung Trọng Thuỷ – Mị Châu? bởi viên ngọc (vốn là máu Mị Châu chảy xuống biển, trai ăn phải mà thành) đem rửa vào nước giếng (nơi Trọng Thuỷ đã nhảy xuống tự tử) thì càng trong sáng hơn. Thậm chí có nhà thơ đã từng viết: “ Nước mắt thành mặt trái của lòng tin – Tình yêu đến cùng đường là cái chết – Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp – Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu”. Có phải tình yêu bị lừa dối vẫn là một tình yêu đẹp? Và phải chăng nàng Mị Châu trong trắng, thuỷ chung dẫu chết rồi vẫn chung thuỷ không biết đến đổi thay? Trước khi chết, Mị Châu đã kịp nhận ra mình bị Trọng Thuỷ lừa dối. Hơn nữa, sự nhẹ dạ của nàng đã phải trả giá rất đắt bằng chính sinh mạng của nàng, sinh mạng của người cha thân yêu và số phận của cả dân tộc. Vì vậy, nếu có kiếp sau, liệu Mị Châu có thể tiếp tục mù quáng mà chung tình với một kẻ đã lừa mình như thế được không? Hơn nữa, trước khi chết, Mị Châu đã ý thức được tội lỗi nặng nề của mình, nặng đến mức nàng không dám xin tha chết mà chỉ xin được: “biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Liệu sau một lần tỉnh ngộ, nàng còn có thể nhanh quên tội, tiếp tục thuỷ chung với kẻ thù của mình như vậy được không?  Không phải là hình ảnh ngợi ca tình yêu Mị Châu – Trọng Thuỷ. Nó là lời minh oan, chiêu tuyết cho Mị Châu. Chứng nhận Trọng Thuỷ đã tìm được sự tha thứ trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia.

    Như vậy, “ngọc trai – giếng nước” là hình ảnh mang ý nghĩa của sự hoá giải hận thù, nói lên truyền thống ứng xử bao dung, đầy nhân hậu của dân gian đối với hai nạn nhân tỉnh ngộ muộn màng của cuộc chiến tranh xâm lược.

    Tóm lại, bằng việc xây dựng nhân vật vừa gắn với “cốt lõi sự thật lịch sử” vừa lung linh yếu tố hoang đường, kì ảo tạo nên “chất thơ và mộng” tràn đầy trong tác phẩm. Các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ và hành động được chọn lọc để khắc sâu hình tượng nhân vật. Xây dựng hình ảnh nghệ thuật giàu chất tư tưởng – thẩm mĩ, nhân dân ta đã sáng tạo ra một câu chuyện truyền thuyết hay và độc đáo. Và từ những chứng minh ở trên đã chứng tỏ nhận định trên là hoàn toàn đúng.

    0
    2020-11-07T20:32:41+00:00

    Để tìm câu trả lời chính xác các em hãy tham khảo tượng an dương vương các nguồn hoc24.vn, lazi.vn, hoidap247.com để thầy cô và các chuyên gia hỗ trợ các em nhé!

Leave an answer

Browse

Giải phương trình 1 ẩn: x + 2 - 2(x + 1) = -x . Hỏi x = ? ( )