Đề số 4 I. ĐỌC HIỂU ( 3 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4 Cuộc đời của tôi là một chuỗi nếu như. Từ nhỏ, tôi chỉ muốn làm

Question

Đề số 4
I. ĐỌC HIỂU ( 3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4
Cuộc đời của tôi là một chuỗi nếu như. Từ nhỏ, tôi chỉ muốn làm một ông chủ trại như bố tôi, và không chịu học nếu như mẹ tôi không bắt tôi sống ở Luân Đôn. Tôi sẽ trượt trong kì thi đại học y, nếu như tôi không phải là một thanh niên giỏi bơi lội, có thể đại diện cho nhà trường trong những kỳ thi Olympic thể thao của sinh viên. Tôi sẽ suốt đời làm một thầy thuốc nông thôn, nếu như giáo sư Wright không chọn tôi làm phụ tá cho ông tại phòng thí nghiệm riêng, nơi tôi tìm ra Pênêxilin. Phát minh này tôi dự tính phải 15 – 20 năm mới triển khai được trong thực tế, nếu như chiến tranh thế giới không xảy ra, thương vong nhiều đến mức các loại thuốc chưa kiểm tra cũng được phép sử dụng, thì Pênêxilin chưa chứng minh được công hiệu của mình và bản thân tôi chưa được giải Nôben.
Hóa học ngày nay – 3/1993
Câu 1: Xác định cách thức diễn đạt ( lối diễn đạt) của văn bản? ( 0.5 điểm)
Câu 2: Chỉ ra thao tác lập luận chính trong văn bản? (0.5 điểm)
Câu 3: Tại sao tác giả lại khẳng định cuộc đời của tác giả là một chuỗi nếu như? ( 1.0 điểm)
Câu 4: Anh/ chị rút ra thông điệp gì từ văn bản? ( 1.0 điểm)
II. LÀM VĂN ( 7 điểm)
Câu 1: (2 điểm) Nghị luận xã hội
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về cơ hội trong cuộc sống.
Câu 2: (3 điểm) Nghị luận văn học
Phân tích 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Anh chị làm hộ em với ạ

in progress 0
Thanh Hà 11 months 2021-02-17T20:49:27+00:00 2 Answers 5 views 0

Answers ( )

    0
    2021-02-17T20:51:23+00:00

    Phần I

    Câu 1 

    cách thức diễn đạt: diễn dịch

    Câu 2

    Thao tác lập luận chính trong văn bản: thuyết minh

    Câu 3

    Vì cuộc đời của tác giả là do hoàn cảnh sống, những cơ hội mang lại. Tác giả đã dùng hết tài năng để tận dụng cơ hội đó tạo nên thành tựu phục vụ cho cuộc sống con người. Cuộc sống chính là cơ
    hội, điều quan trọng ở mỗi người là có biết tận dụng cơ hội đó tạo nên thành công.

    Câu 4

    thông điệp mà em rút ra từ văn bản:  mỗi tình huống trong cuộc sống là cơ hội để con người phát huy tài năng, tận dụng cơ hội học tập và sáng tạo lập nên những thành tích phục vụ cho cuộc sống con người.

    Phần II

    Câu 1

    Ai đó đã nói rằng “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”, đủ cho thấy vai trò của cơ hội trong cuộc sống. Cơ hội là sự xuất hiện những khả năng cho phép người ta làm một cái gì đó. Đó là thời điểm hội tụ một số điều kiện thuận lợi. Đồng thời là những gì chúng ta có thể nắm bắt được nhằm làm thay đổi cuộc sống của chúng ta theo chiều hướng tích cực. Trong cuộc sống, con người có nhiều cơ hội để nắm bắt nhằm thực hiện một kế hoạch, một mục đích làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, không phải ai cũng phát hiện cơ hội và nắm bắt cơ hội tốt. Cơ hội hiếm có trong đời, khi gặp cơ hội chúng ta phải nắm lấy kịp thời, nếu để qua đi chúng ta rất khó gặp lại. Nhìn ra cơ hội vàng là việc khó nhưng tận dụng được nó còn khó hơn nhiều. Đặc biệt, không nhất thiết con người phải chờ cơ hội đến mà phải tự tạo nên cơ hội. Đối với cá nhân từng người, việc chuẩn bị chào đón và tận dụng cơ hội vàng gắn liền với những nỗ lực không ngừng nghỉ, với sự bồi đắp thường xuyên về kiến thức và kĩ năng, đặc biệt là về năng lực thích ứng, năng lực nhận biết và giải quyết mọi tình huống có thể xảy ra. Vậy nên mỗi người cần nhận ra rằng việc nắm bắt cơ hội và tạo ra cơ hội để thực hiện những dự định, hoài bão trong tương lai là điều vô cùng quan trọng.

    Câu 2

    * Dàn ý

    I, MB: Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 14 câu thơ đầu của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy. 

    II, TB:

     1, Khái quát chung 

    – Vị trí: Là đoạn thơ mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thuý Kiều. Tình huống của Kiều là tình huống trao duyên. Trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều là lời Thuý Kiều nói với Thuý Vân

    – Nội dung đoạn trích: Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng

     2, Phân tích

    – 2 câu thơ đầu:

    +Cậy: thái độ vật nài, tin tưởng, thân mật.

    +Chịu: Bị nài ép, bắt buột, không nhận không được.

    +Lạy, thưa:thái độ kính cẩn, hàm ơn. 

    =>Lời xưng hô vừa có sắc thái kính cẩn, vừa có sắc thái nài ép, trông cậy. Nguyễn Du dùng cậy mà không dùng nhờ, chọn chịu mà không dùng nhận bởi vì: giữa các từ ấy có sự khác biết tinh vi.

    + Nếu thay “nhờ” bằng “cậy” không những thanh điệu tiếng thơ nhẹ đi (B- T) mà còn làm giảm đi cái quằn quại, đau đớn, khó nói của Kiều, ý nghĩa hi vọng tha thiết của một lời gởi gắm, trăng trối cũng mất.

    + Nhận có phần nào tự nguyện, chịu thì hình như vì nài ép nhiều quá, nể mà phải nhận, không nhận không được! Tình thế của Thúy Vân lúc ấy, chỉ có thể chịu mà thôi.

    +  “Lạy” vì đó là việc nhờ cậy cực kì quan trọng “chị lạy em” sự việc thật bất ngờ, phi lí mà hợp lí biết bao, bởi đây là người chịu ơn, tỏ lòng biết ơn trước sự hi sinh to lớn và cao quý của em mình, hành động đó đầy kính cẩn, trang trong và cho ta thấy: Thúy Kiều coi em mình là ân nhân số một của đời mình.

    – 10 câu tiếp theo:

    +Đứt gánh tương tư, sóng gió bất kì: nói tai nạn đột ngột trong tình yêu.

    +Quạt ước, chén thề: tình cảm sâu đậm của Kiều và Kim Trọng. +Mối tơ thừa:cách nói nhùn mình vì hiểu được tình thế của em gái.

    +Xót tình máu mủ, ngậm cười chín suối: viện dẫn tình ruột thịt và cái họa kiếp mà Kiều sắp nhận lấy có thể khiến nàng không còn mạng để khiến Thúy Vân không thể chối từ.

    =>Lập luận trao lời khôn khéo, thấu tình.

    3, Đánh giá chung 

    – Ý nghĩa văn bản: thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận đau khổ và nhân cách cao quý của Kiều

    – Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm độc đáo, ngôn ngữ giàu hình ảnh sinh động.

    III, KB: Khẳng định lại vấn đề 

    *Bài viết

    Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 12 câu thơ đầu của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy. 

    ừ trước đến nay “trao duyên” thường mang sắc thái tình cảm; là dấu hiệu của niềm vui mừng; hạnh phúc của đôi lứa dành cho nhau ấy thế nhưng trong văn học xưa lại có cái “trao duyên” đầy đớn đau, bẽ bàng. Đó là cảnh trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Bằng ngòi bút đặc tả, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thấm đẫm nước mắt.

    Đoạn trích “Trao duyên” trải dài từ câu 723-756 của bài thơ kể về cuộc đời gian truân; kiếm đoạn trường; gia biến và lưu lạc của cô gái tài sắc Thúy Kiều. 12 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng:

    Giữa hàng vạn người trong cõi nhân gian, con người ta có cơ duyên may mắn mới tìm được đến với nhau, đồng điệu cùng nhau. Duyên phận là mối keo tơ giữa đôi nam nữ đã được ấn định rõ ràng, ràng buộc về quan hệ tình cảm chẳng thể dễ dàng chuyển giao. Bởi lẽ đó Thúy Kiều đã tỏ ra thận trọng, ngần ngại khi gửi gắm lại cho cô em gái Thúy Vân:

    Cậy em em có chịu lời

    Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa”

    Thúy Kiều là bậc bề trên thế nhưng khi mở lời muốn gửi gắm chuyện tình cảm cho cô em gái nàng lại dùng những từ ngữ có sức biểu đạt đầy trân trọng. “cậy” thể hiện độ tin tưởng, trông mong nhất nhất rằng chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được mình; từ “chịu” xuất hiện cuối câu vừa mang ý nghĩa nghi vấn lại vừa thể hiện sự ràng buộc, bắt buộc. Cả câu thơ ngắt nghỉ nhấn nhá với những câu từ trang nghiêm đã thu hút sự chú ý của Thúy Vân về câu chuyện của chị. Khi em đã thấu hiểu nỗi lòng chị, Thúy Kiều lại tha thiết:

    Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa”

    Thúy Kiều bảo rằng Thúy Vân hãy ngồi lên cho mình “lạy” rồi “thưa”. Ở đây dường như ta thấy có sự mâu thuẫn. Thúy Kiều là chị Thúy Vân, xét về vai vế Thúy Kiều ở đằng trên cớ sao lại phải hành lễ và kính cẩn với Thúy Vân. Điều đặc biệt trong ngụ ý của tác giả có lẽ phải chăng ở chính chỗ này. Đặt trong ngữ cảnh ấy hành động của nàng Kiều không hề phi lí mà hoàn toàn phù hợp. Bởi nàng chẳng còn sự lựa chọn nào khác là nhờ chính em gái ruột của mình, chịu ơn huệ lớn từ em đồng thời hành động ấy cũng lột tả sự khó xử, đầy éo le của cả chị và em Thúy Kiều. Thúy Kiều thì khó mở lời còn Thúy Vân lại chẳng thể khước từ trước lời nhờ cậy thiết tha của chị. Và Thúy Vân từ đây có lẽ rằng đã ngờ ngợ hiểu ra câu chuyện hệ trọng mà chị mình sắp đề cập đến.

    Khi đã được Thúy Vân thấu hiểu, Thúy kiều bắt đầu bày tỏ:

    Giữa đường đứt gánh tương tư

    Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

    Thì ra câu chuyện Kiều nhờ cậy em là mong em sẽ thay mình nối duyên với Kim Trọng. Há sao nó lại là chuyện hệ trọng đến như thế. Bởi nó là chuyện tình cảm đời đời kiếp kiếp; là “gánh tương tư”- ám chỉ nghĩa vụ; bổn phận; trách nhiệm trong tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim trọng nhưng giờ đây nàng lại chẳng thể thực hiện được mà phải nhờ đến em, cậy đến em, mong rằng em sẽ thay mình trả đủ nghĩa đủ tình cho chàng Kim. Và rằng Thúy Kiều buông câu “mặc” như vừa để em tùy lòng quyết định, chữ “mặc” ở đây lại vừa là sự phó mặc. Thúy Kiều đã đặt Thúy Vân vào sự lựa chọn không thể chối từ.

    Biết rằng trao đi nghĩa tình này cho em là làm khó em và trong lòng em cũng dấy lên nhiều đắn đo, suy nghĩ nên Thúy Kiều đã đưa ra những lý do để thuyết phục em:

    “Kể từ khi gặp chàng Kim,

    Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

    Sự đâu sòng gió bất kỳ,

    Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?

    Ngày xuân em hãy còn dài,

    Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”

    Thúy Kiều kể lại rằng giữa mình với Kim Trọng đã trót thề non hẹn biển Thời xưa, lời thề nguyền đặc biệt là thề nguyền đôi lứa có giá trị vô cùng, sắt son, khắc sâu ân tình nghĩa đậm hai bên, mãi mãi chằng chia lìa. Lời thề giống như linh hồn, phẩm giá mỗi người. Ước thề là chất keo dính chặt hai con người. Thế nhưng vì hoàn cảnh éo le, vì gia đình có biến cố vì chữ hiếu mà Thúy Kiều lại đành hi sinh chữ tình, chẳng thể thực hiện tròn cái ước hẹn với chàng để bảo vệ cho cha mẹ, gia tộc. Nhưng Kiều không muốn bội tin, không muốn chàng vì mình đau khổ nên đành nhờ em gái mình tin tưởng thay mình nối tiếp hẹn ước chăm sóc cho chàng. Kiều khéo léo cậy lời:

    Ngày xuân em hãy còn dài

    Xót tình máu mủ thay lời nước non”

    Thúy Kiều dường như hiểu sự băn khoăn, chơi vơi trong tình cảm em. Thúy Kiều biết rằng em đắn đo vì đó là hạnh phúc cả đời. Nàng vỗ về rằng Thúy Vân còn trẻ, ngày xuân còn dài thời gian còn nhiều, Kim Trọng lại là người đàn ông tốt, sau này còn có nhiều cơ hội để vun vén tình cảm, há chăng còn sợ chi “mối tơ thừa”. Thúy Vân hãy vì tình chị em ruột thịt thăm thiết, vì hi sinh báo hiếu của chị mà hãy chấp nhận lời nguyện xin này của Thúy Kiều. Trao duyên cho Thúy Vân, để Thúy Vân cùng Kim Trọng đi suốt quãng đường bình yên còn lại phải chăng Thúy Kiều cũng đã và đang làm tròn nốt bổn phận của người chị, tìm cho em một bến đỗ an toàn, hạnh phúc, một cuộc sống hôn nhân êm đềm tốt đẹp trước khi mình đi xa. Nỗi lòng người chị cả biết lo toan, thấu hiểu mọi bề.

    Tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng như khắc sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn nàng. Bởi thế trao mối tơ duyên này, trong lòng Kiều đầy dằng xé, đớn đau:

    “Chị dù thịt nát xương mòn,

    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

    Trao người đàn ông mình yêu thương, trao tình cảm mặn nồng lại cho em chăm sóc, điều này như bòn rút hết sức lực, tâm hồn Thúy Kiều. Nàng giống như một cái xác không hồn; thấy sự sống của mình như vô nghĩa; như đã chấm dứt: “thịt nát xương mòn’; “ chín suối”. Ơn tình dành cho Thúy Vân vẫn sáng tỏ; dù nơi chín suối Thúy Vân vẫn mỉm cười, vẫn thấy an ủi và vui lòng khi em mình đã thay mình sống cho tròn cái nghĩa cái tình, không phụ sự kỳ vọng của chị. Tuy rằng Thúy Kiều cho em thấy sự an lòng nhưng có lẽ đằng sau đó là một tâm hồn đau khổ, bẽ bàng, đớn đau đến tột cùng của Thúy Kiều khi phải dứt bỏ mối nhân duyên tươi đẹp của mình.

    0
    2021-02-17T20:51:30+00:00

    Để tìm câu trả lời chính xác các em hãy tham khảo cuộc sống là một chuỗi những sự lựa chọn các nguồn hoc24.vn, lazi.vn, hoidap247.com để thầy cô và các chuyên gia hỗ trợ các em nhé!

Leave an answer

Browse

Giải phương trình 1 ẩn: x + 2 - 2(x + 1) = -x . Hỏi x = ? ( )