Cho đoạn văn ” Ta thường đến bữa không ăn … vui lòng ” -Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn a, Đoạn văn gồm mấy câu ? Mỗi câu được trình bày theo mục

Question

Cho đoạn văn ” Ta thường đến bữa không ăn … vui lòng ” -Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
a, Đoạn văn gồm mấy câu ? Mỗi câu được trình bày theo mục đích nói nào ?
b, Trình bày cảm nhận của em về lòng yêu nước của TQT
c, Kể 2 VBNL trung đại khác nói về lòng yêu nước ( Nêu rõ VB – tác giả )
Nếu làm câu này nữa thì ctlhn nhé : Trăng trong thơ Bác
Nhờ các pro văn làm giúp :> mai em thi

in progress 0
Khải Quang 9 months 2021-04-24T15:37:02+00:00 2 Answers 24 views 0

Answers ( )

    0
    2021-04-24T15:38:05+00:00

    a) Trong đoanj văn này gồm 2 câu . câu trần thuật .

     b)trong Hịch tướng sỹ, vị chủ tướng Trần Quốc Tuấn từng viết “Ta thường tới bữa quên ăn…vui lòng”. Qua câu nói này, tác giả Trần Quốc Tuấn đã thể hiện được sự lo âu và đau khổ trong tâm tư của mình trước tình cảnh nước mất nhà tan. Một loạt những hình ảnh nói quá giàu sức biểu cảm cho thấy sự đau khổ, căm phẫn và uất ức khi phải
    nhìn cảnh giặc ngoại xâm sang xâm phạm nước nhà của 1 vị chủ tướng yêu nước. Đó là nỗi đau mất nước, nỗi trăn trở của một vị tướng yêu nước thương dân. Tiếp theo, Trần Quốc Tuấn đã bày tỏ khát khao được hy sinh để đánh đuổi giặc của mình và ông cũng chấp nhận những cái chết đau đớn miễn là bảo vệ được độc lập tổ quốc. Những
    hình ảnh vô cùng giàu sức biểu cảm để nói lên được khát khao được đánh đuổi giặc. Dù cho hy sinh, dù cho ngã xuống, tác giả vẫn thể hiện được ý chí đánh giặc sục sôi của mình bằng những hình ảnh như: “dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”. Đối với Trần Quốc Tuấn thì đó là cái chết hy sinh cao đẹp vì
    tổ quốc, vì độc lập. Thử hỏi lúc bấy giờ có mấy ai đc như vậy .

    c) Chiếu dời đo -lí công uẩn 

    Nước Đại Việt ta -Nguyễn Trãi

    0
    2021-04-24T15:38:53+00:00

    a.

    a.

    – Gồm 2 câu.

    Câu 1: “Ta..thù”: bộc lộ cảm xúc

    Câu 2: “Dẫu..lòng”: bộc lộ cảm xúc

    b.

    Cảm nhận:

    Ở đây, cách nói quá, cực tả đã phát huy tác dụng biểu cảm cao độ. “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối” là thể hiện nỗi trăn trở, day dứt đến thành ám ảnh trong mọi lúc, cả bữa ăn lẫn giấc ngủ, cả đêm lẫn ngày. “Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” là hình ảnh diễn tả nỗi đau xót lớn lao từ trong cõi lòng được biểu hiện ra cả bên ngoài thành dòng nước mắt đầm đìa. Nỗi đau trong lòng đã được thể hiện thành nỗi đau rất cụ thể của cơ thể, của thần xác. Còn lòng căm thù và ý chí tiêu diệt giặc thì được thể hiện một cách mạnh mẽ bằng những hình ảnh: “…xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Điển tích “Da ngựa bọc thây” vốn quen thuộc trong văn chương cổ để nói về kẻ làm tướng sẵn sàng nhận cái chết ngoài mặt trận, thì với Trần Quốc Tuấn đã được tăng cấp lên thành”., trăm thân này phơi bày nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” – Nghĩa là sẵn sàng chết đến trăm lần, nghìn lần miễn là tiêu diệt được quân giặc.

    c.

    – “Nước Đại Việt ta” : Nguyễn Trãi

    – ” Chiếu dời đô” : Lí Công Uẩn

    Câu khác: 

    Trăng trong thơ Bác: 

    Xưa nay, con người thường dành những thiện cảm cho cái đẹp và đối với người nghệ sĩ thì tình yêu dành cho cái đẹp lại càng bất tận, dạt dào hơn hết. Trăng muôn đời nay vẫn là hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên thế nên khi viết về trăng, Bác Hồ cũng muốn nói lên sự rung cảm của mình trước vẻ đẹp của thế giới tự nhiên. 

    Thế giới ấy có sự hiện hữu của mây, gió, hoa, núi, sông, tuyết và tất nhiên trong đó không thể thiếu trăng. Sự rung cảm ấy là cái gì đó rất đỗi tự nhiên để người nghệ sĩ có thể chắp bút viết nên những vần thơ nói lên tình cảm của mình dành cho những điều tươi đẹp trên đời:

    “Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông.”(“Cảm hứng đọc “Thiên gia thi”)

    Ở thời điểm nào, trăng cũng mang một vẻ đẹp riêng khiến cho con người say đắm. Đó là vẻ đẹp viên mãn, sáng ngời của vầng trăng đêm rằm. Khi xuất hiện trong phối cảnh của sông xuân, nước xuân, vầng trăng lại thêm rực rỡ, chiếu sáng khắp không gian làm bừng lên không khí mùa xuân nồng nàn:

    “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viênXuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”Dịch nghĩa:                                           “Đêm nay, đêm rằm tháng giêng, trăng đúng lúc tròn nhấtSông xuân, nước xuân tiếp giáp với trời xuân”

     (“Nguyên tiêu”)

    Trong không khí cả vạn vật đất trời đang bước vào thời điểm sức xuân bừng lên ngời ngời, trăng đã hòa cùng sôngnướctrời để làm nên một không gian có sự chan hòa của cảnh vật. Và không gì khác, trăng đã dùng ánh sáng “lồng lộng” trong khoảnh khắc tròn đầy, tươi đẹp nhất của năm để kết nối, kéo gần tất cả những sự vật ấy sát gần nhau làm sắc xuân thêm phơi phới, khí xuân thêm tràn đầy.

    Trănluôn hòa mình vào vạn vật, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp, cảnh ấy vừa sinh động vì có cả âm thanh du dương của suối thác, vừa có sự hài hòa khi kết hợp với cây cối, hoa cỏ:

    “Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

    (“Cảnh khuya”)

    Ở bài thơ “Đối nguyệt”trăng cũng đảm đương vai trò sứ giả gắn kết các sự vật lại gần nhau và gần với con người:

         “Ngoài song, trăng rọi cây sân,

                Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.”

    (“Đối nguyệt”)

    Khi đất trời bước sang mùa thu, hình bóng trăng vẫn “vành vạnh” trên cao, ánh sáng của trăng vẫn ngập tràn sức sống:

    “Trung thu nguyệt viên như kínhChiếu diệu nhân gian bạch tự ngân.”

    (“Trung thu”)

    Dịch nghĩa:

     “Tết Trung thu, trăng thu tròn tựa gươngSoi rọi cõi người, màu trắng như bạc”

    Đã có những thời điểm Bác phải ngắm trăng trong hoàn cảnh giam hãm, ngục tù nhưng dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, khó khăn đến như thế nào thì cảnh đẹp vì có sự hiện diện của trăng đã khiến người thi sĩ không thể hững hờ. Dù cho họ “không rượu cũng không hoa”, họ vẫn say đắm thưởng thức vẻ đẹp tự nhiên, ngời sáng của vầng trăng trên cao:

    “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,Đối thử lương tiêu nại nhược hà?Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt”(“Vọng nguyệt”)Dịch nghĩa:“Trong tù không rượu cũng không hoaCảnh đẹp đêm nay khó hững hờNgười ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”Vầng trăng cũng vượt qua sự cản ngăn của song sắt để tìm đến với thi nhân:     “Nguyệt tòng song khích khán thi gia”Dịch nghĩa:       “Từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ”

    Trăng trong thơ Bác rất sáng, rất trong và cũng rất đẹp. Điều đó thể hiện tình yêu của Người với trăng nói riêng và thiên nhiên nói chung. Vạn vật hay cụ thể là trăng, hoa, gió, suối… lại chính là những vốn quý làm nên thiên nhiên của đất nước. Chính vì thế, khi Bác dành tình yêu cho thiên nhiên cũng chính là thể hiện tấm lòng của mình đối với đất nước mà ở trong hoàn cảnh nào thì tấm lòng ấy cũng vẫn luôn nồng nàn, tha thiết.

    Khi đã chọn cho mình con đường cách mạng để dành cả đời theo đuổi, Bác Hồ cũng lường trước được những gian lao, thử thách mà mình phải trải qua. Thế nhưng trước hoàn cảnh nào, dù phải ở trong điều kiện vất vả thế nào, khó khăn ra sao thì tinh thần lạc quan cách mạng vẫn dạt dào trong những vần thơ của Bác. 

    Chỉ cần có ánh sáng của trăng, dẫu chỉ là một chút, Bác cũng như được tiếp thêm động lực để vững tin ở tương lai tươi sáng hơn. Trong hoàn cảnh tăm tối, u uất, ánh trăng có sức mạnh rất lớn trong việc vực dậy tinh thần con người:

    “Nhất thứ kê đề dạ vị lan

    Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san.”

     (“Tảo giải”)

    Dịch nghĩa:

    “Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,

    Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu.”

    Giữa lúc chiến sự đang ở tình thế cam go, Bác Hồ và các anh chiến sĩ phải “đàm quân sự” nơi “thâm xứ”, Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung, tự tại và tinh thần lạc quan khi cảm nhận được vẻ đẹp cũng như sự đồng hành của trăng, của vạn vật đất trời. Đó cũng giống như sự ủng hộ, động viên của người bạn tri âm với người chiến sĩ:

    “Yên ba thâm xứ đàm quân sự

    Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”

    (“Nguyên tiêu”)

    Dịch nghĩa:                   

    “Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng bàn bạc việc quân,

    Nửa đêm quay về trăng đầy thuyền.”

    Trong hoàn cảnh ngục tù, có vầng trăng trên cao làm bạn, nhà thơ như không còn cảm thấy đơn độc, bức bối:

    Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

    Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

    (“Vọng nguyệt”)

    Dù cho “song” có đứng ở vị trí rào cản ngăn cách “nhân” và “nguyệt” nhưng nó sẽ không bao giờ có đủ sức mạnh chặn lại cuộc vượt ngục về tinh thần. Song sắt của nhà giam có thể cầm tù người chiến sĩ nhưng không thể giam hãm tinh thần và không thể biến người chiến sĩ thành tù nhân. 

    Câu thơ đã làm sáng lên tâm hồn tương giao, hòa hợp giữa “thi gia” và vầng trăng trên cao. Không chỉ có mỗi nhà thơ đơn phương ngắm trăng, tâm sự cùng trăng mà trăng cũng chủ động tìm đến Người để thể hiện sự đồng cảm, khích lệ. Trong chốn “ngục trung” như vậy, quả thật tinh thần con người rất dễ bị đánh bại để trở nên gục ngã, sống bi quan nhưng ta khó có thể tìm thấy những biểu hiện về sự bế tắc trong tinh thần của Bác Hồ. Ngược lại, dù cảnh ngộ có éo le, có tăm tối đến dường nào, Hồ Chí Minh càng lạc quan, càng có niềm tin về tương lai tươi mới.

    Vầng trăng có thể chiếu tỏa ánh sáng khắp nhân gian, hơn nữa lại ở vị thế tự tại, khi tĩnh lặng, nhưng có lúc lại vận động (“Trên trời trăng lướt giữa làn mây”) nên nó không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn thể hiện sự tự do ít nhiều. Thế nên, viết về trăng, nhất là trong hoàn cảnh bị cầm tù, người chiến sĩ còn bộc lộ niềm khao khát được tự do một cách tha thiết. 

    Được trả tự do, có lẽ nhà thơ sẽ thưởng trăng một cách đầy đủ hơn, mãn nguyện hơn và khi mong muốn được tự do, người chiến sĩ cũng bộc lộ khát vọng được “mang về” vầng trăng hòa bình cho đất nước:

    “Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,Tâm tùy thu nguyệt cộng du du.”(“Trung thu”)Dịch nghĩa:“Không được tự do thưởng trăng thuLòng ta theo cùng trăng thu vời vợi xa.”

    Về nội dung, những câu thơ Bác viết về trăng đã làm bộc lộ tình yêu tha thiết của Người với một hình ảnh rất đỗi quen thuộc, thân thương nhưng cũng là tình cảm dành cho thiên nhiên nói chung. Bên cạnh đó, những câu thơ trên còn góp phần làm nổi bật những vẻ đẹp cao quý của người chiến sĩ cách mạng. Đó là sự lạc quan, yêu đời, khát khao tự do và ý chí quyết tâm theo đuổi lí tưởng cộng sản.

    Về nghệ thuật, Hồ Chí Minh đã khắc họa thành công hình ảnh vầng trăng dù là hình ảnh cổ điển nhưng lại có những chấm phá của sự mới mẻ, hiện đại. Trăng trong thơ Bác không đơn thuần thể hiện sự tĩnh tại của cảnh vật mà còn cho thấy sự chuyển biến vận động khi hướng nhận thức của nhân vật trữ tình về phía ánh sáng, tương lai, trong thơ cũng có sự tương tác hai phía ở cả người và cảnh chứ không phải chỉ mỗi con người tìm đến thiên nhiên.

     Tóm lại, ta có thể bắt gặp sự thường trực của hình ảnh vầng trăng trong thơ Bác. Qua ánh sáng bàng bạc của trăng trong thơ Người, ta không chỉ thấy chất thép của ý chí người chiến sĩ mà còn thấy chất tình tài hoa của người thi sĩ.

    Chúc bn hok tốt!!!

Leave an answer

Browse

Giải phương trình 1 ẩn: x + 2 - 2(x + 1) = -x . Hỏi x = ? ( )